SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
0
1
0
5
9
5
0
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 27 Tháng Mười Một 2015 1:35:00 CH

Thực trạng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn thành phố hồ chí minh sau 30 năm đổi mới

Tóm tắt: Từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt từ năm 1986 – năm bắt đầu giai đoạn đổi mới, nông nghiệp - đời sống nông dân - nông thôn thành phố đã liên tục phát triển, góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, kinh tế - xã hội; giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp trên 1 ha đất canh tác đến cuối năm 2014 đạt 325 triệu đồng/ha/năm; thu nhập người dân nông thôn đạt 40,04 triệu đồng/người/năm, xây dựng nông thôn mới đã đạt được các thành tựu cơ bản....Chính vì vậy, cần phải thấy rõ, không phải đến nay Thành phố mới chú trọng chỉ đạo phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn, mà Thành ủy, UBND TP đã quan tâm chỉ đạo tập trung, xuyên suốt, ngay từ sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đặc biệt sau 30 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu khả quan, như: cơ sở hạ tầng đang ngày một hoàn thiện; nông nghiệp phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày một nâng cao, giảm dần khoảng cách về thu nhập và mức sống so với người dân khu vực nội thành.

1. Các giai đoạn phát triển nông nghiệp, chăm lo đời sống của nông dân, xây dựng nông thôn của Thành phố sau 30 năm đổi mới (1986 – 2015)

Nếu tính chung từ năm 1975 cho đến nay, có thể chia làm 4 thời kỳ:

- Thời kỳ khôi phục màu xanh trên “Vùng đất trắng” thành vành đai lương thực, thực phẩm; ổn định đời sống nhân dân.

- Thời kỳ xây dựng ngoại thành thành vành đai thực phẩm và vành đai cây công nghiệp ngắn ngày với nhiệm vụ cung cấp thực phẩm và một phần nguyên liệu cho công nghiệp chế biến của thành phố.

- Thời kỳ phát triển theo định hướng “Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao; hình thành và phát triển nền nông nghiệp đô thị.

- Thời kỳ đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp đô thị, phấn đấu cơ bản hoàn thành xây dựng nông thôn mới.

Trong đó, từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng đến trước năm 1986 là thời kì khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân và bắt đầu xây dựng ngoại thành thành các vành đai thực phẩm và vành đai cây công nghiệp ngắn ngày. Thời kỳ này, thành phố giúp dân ổn định chỗ ở, tháo gỡ bom mìn, phục hóa khai hoang với hơn 128.000 quả bom mìn, gần 2.000 tấn đạn dược các loại. Đưa vào sản xuất 70.000 ha vùng đất trắng, góp phần đưa diện tích trồng trọt từ 45.000 ha lên 115.000 ha, đưa sản lượng lúa từ 95.000 tấn (1975) lên 160.000 tấn (1976). Góp phần trong việc đảm bảo lương thực thực phẩm cho thành phố trong giai đoạn thử thách. Đến giai đoạn 1981-1985, với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp để tạo bước phát triển toàn diện, được đánh dấu từ NQTW6 (khóa IV), Chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, Thành ủy đã cụ thể hóa thông qua các chủ trương phương hướng để đẩy mạnh phát triển hạ tầng kỹ thuật ngành nông nghiệp, tiếp tục xây dựng ngoại thành thành vành đai thực phẩm và vành đai cây công nghiệp ngắn ngày có chất lượng cao.

Từ năm 1986 đến nay (tháng 8 năm 2015), phát triển nông nghiệp, đời sống nông dân, xây dựng nông thôn của thành phố có thể chia thành 3 thời kỳ:

1.1 Giai đoạn đẩy mạnh xây dựng vành đai thực phẩm và vành đai cây công nghiệp ngắn ngày với nhiệm vụ cung cấp thực phẩm và một phần nguyên liệu cho công nghiệp chế biến của thành phố (1986-1990).

Đây là giai đoạn thực hiện chủ trương  đổi mới của Đảng từ năm 1986 (đặc biệt từ Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05 tháng 4 năm 1988 của Bộ Chính trị, về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp), Thành phố tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy lợi nhằm phục vụ sản xuất và dân sinh, đặc biệt là Hệ thống thủy lợi kênh đông Củ Chi: với 11 km kênh trục chính, 22 tuyến kênh cấp I (62 km) tưới tiêu cho 15.000 ha vùng Củ Chi; hệ thống ngăn mặn, xổ phèn vùng Tây Nam Hóc Môn và Bắc Bình Chánh. Các chương trình phát triển giống bò sữa, heo chất lượng cao được chú trọng. Tuy nhiên, nhiều tác động khách quan do cơ chế thị trường xoay quanh các vấn đề giá cả, khó khăn trong lưu thông nên tốc độ tăng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp chậm lại đạt bình quân 4,6%/năm.

1.2. Thời kỳ phát triển theo định hướng “Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao; hình thành và phát triển nền nông nghiệp đô thị (1991-2010)

* Giai đoạn 1991-1995: Nhờ đổi mới cơ chế quản lý, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư mạnh vào nông nghiệp và áp dụng kịp thời các thành tựu khoa học kỹ thuật nên cơ cấu sản xuất từng bước chuyển đổi theo hướng tạo hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản tăng bình quân 4,9%/năm; đàn bò sữa tăng lên 6.650 con; giảm diện tích độc canh cây lúa 1 vụ năng suất thấp, tăng cây trồng thực phẩm và công nghiệp, bắt đầu khôi phục phát triển cây ăn trái; quản lý có hiệu quả 30.500 ha rừng phòng hộ. Hệ thống hạ tầng nông thôn: Điện, đường, trường, trạm, nước sạch được quan tâm đầu tư phát triển.

* Giai đoạn 1996-2000: Do đô thị hóa, bất cập vì quy hoạch, đất bị bỏ hoang do “quy hoạch treo” giảm hơn 5.000 ha. Xuất hiện dấu hiệu không mạnh dạn, an tâm đầu tư vào sản xuất nông nghiệp.

Tốc độ tăng trưởng bình quân 1,1%/năm; đàn bò sữa đạt 25.089 con, trong 10 năm đàn bò sữa tăng 5,7 lần (bình quân 21,3%/năm). Cơ cấu sản xuất nông nghiệp có sự chuyển dịch: tỷ trọng trồng trọt từ 45,2% giảm còn 39,0%; tỷ trọng chăn nuôi từ 29% lên 34%; tỷ trọng thủy sản tăng nhẹ từ 11,9% lên 12,8%.

* Giai đoạn 2001-2005: Đây là giai đoạn chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua chương trình giống chất lượng cao với mũi đột phá qua chương trình 2 cây - 2 con của thành phố. Từng bước khắc phục tình trạng khó khăn do đô thị hóa, tích cực chuyển dần sang mô hình nông nghiệp đô thị.

Tốc độ tăng trưởng 5,96%/năm; giá trị sản xuất đạt trên 3.500 tỷ đồng, tăng hơn 1,8 lần so năm 1995. Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả như: Nuôi tôm sú công nghiệp thu nhập 140 triệu đồng/ha/năm; Nuôi bò sữa 5 con/hộ, thu nhập 45 triệu đồng ha/năm; Trồng rau an toàn thu nhập 150-180 triệu đồng/ha/năm; Nuôi cá sấu 50 con/hộ thu nhập 150 triệu đồng/năm…

Nông thôn: Đến cuối năm 2003 có 100% xã phường, thị trấn và 99,9% số hộ dân ngoại thành được cấp điện lưới từ lưới điện quốc gia; trên 92% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh. Hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở, 98,5% số người biết chữ (2001). Hoàn thành cơ bản chỉ tiêu nâng cấp, tăng khả năng khám chữa bệnh của mạng lưới y tế cơ sở, chương trình y tế cộng đồng, các phường xã có đủ y bác sĩ.

* Giai đoạn 2006-2010: Đây là giai đoạn xây dựng nền nông nghiệp gắn liền với đặc trưng của một đô thị lớn. Trong đó, lấy việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi năng suất thấp, kém hiệu quả sang phát triển mạnh các cây con mang lại hiệu quả kinh tế cao. Phát triển theo chiều sâu các mô hình tổ chức sản xuất có hiệu quả như kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã kết hợp với kinh doanh; tiến tới xây dựng thương hiệu, xuất xứ sản phẩm.

* Về xây dựng nông thôn, trong thời kỳ này (giai đoạn 2001 – 2010), TP.HCM thực hiện 03 đề án – mô hình – thí điểm phát triển nông thôn, tương ứng với 03 giai đoạn: 

- Từ năm 2001 đến năm 2007: xây dựng thí điểm mô hình Phát triển nông thôn (cấp xã), theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa; tại 03 xã: Thái Mỹ (huyện Củ Chi), Xuân Thới Thượng (huyện Hóc Môn), Bình Chánh (huyện Bình Chánh).

- Từ năm 2007 đến năm 2009:  xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới cấp thôn, bản (tại TP.HCM là cấp ấp); tại ấp Chánh, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi.

- Từ tháng 5 năm 2009 đến năm 2010 (và tiếp tục thực hiện đến nay): xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới cấp xã trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tại xã Tân Thông Hội, (huyện Củ Chi) do Ban Bí thư Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo; ngoài ra TP.HCM đã chỉ đạo xây dựng thêm 5 mô hình thí điểm tại 5 xã (thuộc 5 huyện) của Thành phố, gồm: xã Thái Mỹ (huyện Củ Chi), Xuân Thới Thượng (huyện Hóc Môn), Tân Nhựt (huyện Bình Chánh), Nhơn Đức (huyện Nhà Bè) và Lý Nhơn (huyện Cần Giờ) – nhằm tận dụng được các kinh nghiệm, lợi thế từ việc xây dựng thí điểm tại xã Tân Thông Hội để nhân rộng ra các xã và ngược lại..

1.3. Thời kỳ đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp đô thị, phấn đấu cơ bản hoàn thành xây dựng nông thôn mới (2011 – 2015):

Về nông nghiệp, trên cơ sở các kết quả cơ bản đạt được thời kỳ 2001 – 2010, đây là thời kỳ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị , chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vật nuôi theo hướng giảm dần diện tích sản xuất lúa năng suất thấp kém hiệu quả, đẩy mạnh sản xuất giống, các cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với nông nghiệp đô thị.

Về xây dựng nông thôn, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (từ ngày 05 đến 08/10/2010), đã đưa Chương trình xây dựng nông thôn mới là 1 trong 18 chỉ tiêu chủ yếu của thành phố, chỉ đạo “xây dựng mô hình nông thôn mới xã hội chủ nghĩa văn minh, giàu đẹp, kinh tế phát triển và giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường”. Đặc biệt, ngày 10/8/2012, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW, về phương hướng nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh thành phố phải: “...Đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, phấn đấu cơ bản hoàn thành vào cuối năm 2015; phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững...”.

Bên cạnh 6 xã điểm, từ cuối năm 2010 Thành phố chỉ đạo 50 xã còn lại khảo sát, xây dựng đề án nông thôn mới và từ năm 2011 đẩy mạnh thực hiện xây dựng nông thôn mới tại 56/58 xã trên địa bàn vùng nông thôn thành phố (trừ xã Trung Chánh – huyện Hóc Môn và xã Bình Hưng – huyện Bình Chánh, đã đô thị hóa gần như hoàn toàn, sẽ xây dựng đề án theo hướng đô thị)

2. Một số kết quả thực hiện đến tháng 8 năm 2015

2.1. Về nông nghiệp:

Theo Niên giám thống kê năm 2013, thành phố Hồ Chí Minh có 116,9 nghìn ha đất nông nghiệp, trong đó đất sản xuất nông nghiệp: 71,2 nghìn ha, đất lâm nghiệp có rừng: 34 nghìn ha, đất nuôi trồng thủy sản: 9,4 nghìn ha, đất làm muối: 2 nghìn ha.

Năm 2014, GDP nông lâm ngư nghiệp thành phố đạt 8.628 tỷ đồng (giá thực tế), tăng 5,9% so cùng kỳ (cùng kỳ tăng 5,7%), bằng 1,8 lần so mức tăng của cả nước (cả nước 3,3%); giai đoạn 2011 – 2014, GDP nông lâm ngư nghiệp thành phố tăng bình quân 5,8%/năm, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố đề ra 5%.

Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp đạt 16.120,5 tỷ đồng (giá thực tế), tăng 6% so cùng kỳ, bằng 1,6 lần so mức tăng của cả nước (cả nước tăng 3,6%), giai đoạn 2011 – 2014 tăng bình quân 6%/năm, bằng  1,5 lần so cả nước (cả nước tăng 3,98%); trong đó, trồng trọt tăng 4,5% (cùng kỳ tăng 5,4%); chăn nuôi tăng 4,3%  (cùng kỳ tăng  4,0%), thủy sản tăng 9,8% (cùng kỳ tăng 9,6%), đạt chỉ tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố đề ra 6%.

Về cơ cấu giá trị sản xuất: trồng trọt chiếm tỉ trọng 24,8% (năm 2011: 24,9%); chăn nuôi: 39,6% (năm 2011: 46,9%); dịch vụ nông nghiệp: 6,7% (năm 2011: 6,6%); thủy sản: 27,9% (năm 2011: 20,5%).

Trong nội bộ từng ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản cũng có sự chuyển đổi cơ cấu theo hướng sản xuất cây trồng, vật nuôi có năng suất, giá trị gia tăng cao đã nâng cao hiệu quả sản xuất thực tế bình quân trên 1 hecta canh tác. Giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác đạt từ 158 triệu đồng (năm 2010), 202 triệu đồng/ha/năm (năm 2011), năm 2012 đạt 239 triệu đồng/ha/năm, năm 2013 đạt 282 triệu đồng/ha/năm và năm 2014 đạt 325 triệu đồng, tăng 15,2% so năm 2013 và tăng  2 lần so với năm 2010.

2.2. Về đời sống nông dân

- Thu nhập bình quân khu vực nông thôn Thành phố - theo tổng hợp kết quả điều tra thu nhập hộ gia đình tại 56 xã xây dựng nông thôn mới cuối năm 2014 (Cục Thống kê Thành phố và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): 40,04 triệu đồng/người/năm (#3,34 triệu đồng/người/tháng – khu vực thành thị: 4,12 triệu đồng/người/tháng). Khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn ngày càng thu hẹp qua các năm: năm 2008 - năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) – Nghị quyết 26, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn – thu nhập bình quân đầu người ở thành thị là 28,31 triệu đồng/người/năm (2,36 triệu đồng/người/tháng); cao gấp 1,8 lần so với nông thôn; đến năm 2010, cao gấp 1,5 lần và đến cuối năm 2014 chỉ còn cao gấp 1,2 lần.

Nếu so sánh thu nhập bình quân khu vực nông thôn thành phố năm 2008 với thời điểm hiện nay, ta thấy rằng: thu nhập bình quân khu vực nông thôn năm 2008 là 15,73 triệu đồng (1,31 triệu đồng/người/tháng), đạt 55% so với thu nhập khu vực thành thị; đến năm 2010 là 22,0 triệu đồng (1,83 triệu đồng/người/tháng), đạt 66,7% so với thu nhập khu vực thành thị và đến năm 2014, thu nhập khu vực nông thôn là 40,04 triệu đồng (3,34 triệu đồng/người/tháng), đạt 80,1% so với thu nhập khu vực thành thị. Qua đó, cho thấy thu nhập của người dân khu vực nông thôn từng bước được nâng lên rõ rệt.

- Tính đến cuối năm 2014, trên địa bàn các xã xây dựng nông thôn mới, tỷ lệ hộ nghèo (có thu nhập bình quân từ 16 triệu đồng/người/năm - chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2014 - 2015 của Thành phố) từ 10,77% (35.097 hộ) đầu năm 2014 giảm xuống còn 3,93% (12.810 hộ) vào cuối năm 2014. Đối với 5 huyện ngoại thành đã giảm được 6,84% hộ nghèo (so với đầu năm 2014), vượt chỉ tiêu kế hoạch (kế hoạch năm 2014 là giảm từ 4-5% tỷ lệ hộ nghèo) và Thành phố không còn hộ nghèo trong chuẩn nghèo quốc gia.

- Công tác chăm lo sức khỏe, giáo dục, sinh hoạt văn hóa, bảo vệ môi trường được chú trọng, góp phần nâng cao đời sống của người dân nông thôn, giảm dần cách biệt với đời sống của người dân khu vực nội thành thành phố.

2.3. Về xây dựng nông thôn mới

2.3.1. Kết quả thực hiện:

Đối với Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), qua hơn 5 năm triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa - bắt đầu từ xã Tân Thông Hội (huyện Củ Chi) xã điểm do Trung ương trực tiếp chỉ đạo (từ năm 2009) và tại 5 xã điểm do Thành phố chọn thuộc 5 huyện. Đến nay, TP.HCM đã đạt được những kết quả khả quan bước đầu: tính chung tại 56/56 xã xây dựng nông thôn mới (gồm tổng cộng 06 xã diểm và 50 xã nhân rộng) bình quân đạt 18,9 tiêu chí/xã; Không còn xã đạt dưới 17 tiêu chí; Bộ mặt của nông thôn thực sự thay đổi và khởi sắc đi lên, đời sống của người dân nông thôn được cải thiện.

2.3.2. Một số kinh nghiệm:

Trong quá trình thực hiện, từ chỉ đạo của Trung ương, kết quả thực tiễn xây dựng nông thôn mới và kết hợp khảo sát, trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh thành trong cả nước, Thành phố đúc rút ra một số bài học kinh nghiệm ban đầu, xin được chia sẻ chung tại Hội thảo:

- Thứ nhất, bên cạnh các công tác chỉ đạo tập trung, thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền, bố trí, bồi dưỡng cán bộ.v.v..., việc tập trung thực hiện theo đúng phương châm chỉ đạo của Trung ương là điều kiện tiên quyết: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát và dân hưởng. Trong đó, phải luôn đa dạng hóa nguồn huy động nguồn lực để xây dựng nông thôn mới. Huy động nguồn lực từ cộng đồng là quyết định, sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội là quan trọng, sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là cần thiết. Vốn nhà nước chỉ đầu tư cho các công trình thiết yếu, tạo điều kiện đẩy mạnh giao thương, phát triển sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội, có sức lan tỏa, tạo động lực, tạo niềm tin cho người dân và toàn xã hội tham gia.

Trong đó, một trong các điểm nhấn quan trọng là Thành ủy TPHCM đã chỉ đạo thực hiện Chung sức xây dựng nông thôn mới” với các nội dung cụ thể. Ký kết hỗ trợ (với các nội dung về hỗ trợ sản xuất, xóa nhà tạm dột nát, thực hiện an sinh xã hội...) giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM, Hội Nông dân thành phố, 19 quận, 25 Đảng ủy cấp trên cơ sở và các Tổng Công ty, Đảng ủy lực lượng vũ trang thành phố với các huyện, xã thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Thành phố. Qua đó, phát huy sức mạnh tổng hợp, huy động mọi nguồn lực để chung tay xây dựng nông thôn mới.

Sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân, có thể thấy qua các số liệu cụ thể: chỉ riêng hiến đất xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trên địa bàn 56 xã tính đến tháng 8 năm 2015 có 19.650 hộ dân hiến 2.014.690 m2 đất, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, quy giá trị trên 1.455 tỷ 220 triệu đồng.

- Thứ hai, có cơ chế chính sách phù hợp trên địa bàn thành phố, giúp huy động được nguồn lực trong dân, nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Như: Thành phố đã ban hành Quy định về chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011 – 2015; kết quả cho thấy: với 1 đồng vốn ngân sách Thành phố hỗ trợ lãi vay (cho các tổ chức, cá nhân thực hiện theo định hướng Chương trình mục tiêu phát triển nông nghiệp đô thị của Thành phố), đã huy động được 29 đồng vốn dân và cộng đồng đầu tư, trong đó huy động từ các tổ chức tín dụng là 17 đồng, huy động trong dân là 12 đồng.

Từ đó đã giúp đạt các kết quả: Năm 2014, GDP nông lâm ngư nghiệp thành phố, tăng 5,8% so cùng kỳ; giai đoạn 2011 – 2014 GDP nông lâm ngư nghiệp thành phố tăng bình quân 5,8%/năm.  Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp đạt 16.120,5 tỷ đồng (giá thực tế), tăng 6% so cùng kỳ, giai đoạn 2011 – 2014 tăng bình quân 6%/năm. Giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác đạt từ 202 triệu đồng (năm 2011) đến năm 2014 đạt 325 triệu đồng, tăng 15,2% so cùng kỳ và tăng hơn 1,6 lần so với năm 2011 – năm đầu tiên thực hiện xây dựng nông thôn mới tại tất cả các xã.

- Thứ ba, phải xác định: xây dựng nông thôn mới là một tiến trình, phải theo hướng phát triển đi lên. Từ đó, với các xã đã đạt chuẩn phải luôn có giải pháp thực hiện, nhằm tiếp tục duy trì và nâng chất các tiêu chí đạt chuẩn trong giai đoạn mới. Phải xác định đạt tiêu chí không phải là kết quả cuối cùng, mà chỉ là đánh giá mức độ đạt được trong quá trình; là mức để so sánh sự phát triển giữa các vùng (theo hướng nâng cao chất lượng cuộc sống). Đó là tiêu chí động” (Như: về tiêu chí hộ nghèo tại TP.HCM, trước đây từ dưới 12 triệu đồng/người/năm, đến giai đoạn 2014 - 2015 là: dưới 16 triệu đồng/người/năm, và dự kiến giai đoạn 2016 – 2020 sẽ là: dưới 21 triệu đồng/người/năm và không chỉ theo chiều thu nhập mà hướng đến đa chiều, tiếp cận các vấn đề về giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, chất lượng cuộc sống.v.v..)

Tóm lại, cùng với sự quan tâm lãnh đạo của cấp trên, sự phối hợp hiệu quả với các Bộ - ban - ngành Trung ương và các địa phương bạn, kế thừa thành tựu phát triển nông nghiệp, nông thôn thành phố trong từng thời kỳ, nông nghiệp – nông thôn TP.HCM đến nay đã đạt được các thành tựu cơ bản. Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu sản xuất và dân sinh, góp phần thu hút đầu tư trong cộng đồng; xuất hiện các mô hình sản xuất có hiệu quả theo hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao; đời sống vật chất và văn hóa của dân cư nông thôn được nâng lên, tạo điều kiện để người dân tiếp cận và được phục vụ tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; từng bước giảm dần sự cách biệt về hưởng thụ văn hóa giữa đô thị và nông thôn; khoảng cách thu nhập giữa ngoại thành và nội thành ngày một giảm; hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố, tăng cường… diện mạo nông thôn đã có bước thay đổi rõ nét, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển thành phố./.


Số lượt người xem: 10507    
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Test
Tìm kiếm