SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
0
7
3
3
2
6
8
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 12 Tháng Bảy 2007 11:15:00 CH

10 cây lâm nghiệp bản địa phòng chống sạt lở ven sông rạch - Giá trị kinh tế

Tuyển chọn một số loài cây lâm nghiệp bản địa hiện hữu tại thành phố Hồ Chí Minh, vừa có giá trị kinh tế vừa chống sạt lở ven sông rạch tại thành phố Hồ Chí Minh từ rừng ngập mặn Cần Giờ. Tạo tiền đề cho việc khôi phục và nhân rộng khả năng vốn có của các loài cây này.

 

Mục đích:

          Tuyển chọn một số loài cây lâm nghiệp bản địa hiện hữu tại thành phố Hồ Chí Minh, vừa có giá trị kinh tế vừa chống sạt lở ven sông rạch tại thành phố Hồ Chí Minh, trừ rừng ngập mặn Cần Giờ.

          Tạo tiền đề cho việc khôi phục và nhân rộng khả năng vốn có của các loài cây này.

Yêu cầu:

          Mô tả chi tiết về hình thái, sinh thái, thu hái, bảo quản hạt giống, gieo ươm và công dụng.

          Khả năng chịu ngập, tái sinh chồi mạnh, cây thường xanh, tán rộng để bảo vệ và chống lại sự xâm hại của nước

          Sau một năm theo dõi, điều tra dọc theo một số sông, kinh, rạch tiêu biểu tại các quận 12, 2, 9 huyện Thủ Đức, Củ Chi, Bình Chánh…chúng tôi đã tuyển chọn được 10 loài cây lâm nghiệp bản địa hiện hữu tại thành phố Hồ Chí Minh.

 

Họ (family)

Tên khoa học

(Technical name)

Tên thường gọi (general name)

Sonneratiaceae

Sonneria caseolaris (L.) Engl.

Bần chua

Palmaecae

Nypia frutican

Dừa nước

Caesalpiniaceae

Intsia bijuga

Gõ nước

Rubiaceae

Nauclea orientalis (L.)

Gáo vàng

Meliacace ( Xoan)

Amoora cucullata

Nhạc ngựa nước

Myrtacaece

Melaleuca cabujuti

Tràm chua

Myrtacaece

Amoora cuculata

Trâm

Rhyzophoraceae

Bruguiera sexangula ( Lour.)

Vẹt đen

Myristicaeae

Horsfielddia irya (Warbg.)

Xăng máu

Elaeocarpaceae

Elaeocarpus littoralis (Teijm.)

Xăng trắng

 

Mô tả:

 

     1- BẦN CHUA              

  Tên khoa học: Sonneratia caseolaris (L.) Engl

  Tên thường gọi: Bần chua

  Họ: Sonneratiaceae

 

   Cây thân gỗ thường xanh, cao khoảng 20m, nhiều cành nhánh, tán lá tròn, rộng. Thân thẳng, vỏ màu xám hơi nâu đỏ, lá đơn, mọc đối, hình elip, dài 5 - 5cm; rộng 2 – 5cm, màu xanh lục sáng khi non, màu xanh đậm khi già, gốc cuống lá màu đỏ.  

       Hoa lưỡng tính mọc ở đầu cành, 4 - 6 cánh hoa màu đỏ; 4 - 6 đài màu xanh; vô số nhị; gốc nhị màu đỏ; ngoài màu trắng, ra hoa vào tháng 2 - 3 chín 4 -6. Trái tròn màu xanh có vị chua hơi ngọt khi chín. Phát tán nhờ nước, chim, thú nhỏ. Rể thở mọc nhiều quanh gốc giống như cây viết chì.

 

 

                

   

      Phân bố tương đối rộng trên các sông rạch tại thành phố

      Thu hái hạt giống: Khi trái chuyển màu xanh lục đậm, gần cuống trái chuyển sang màu vàng chanh có thể thu hái trái. Làm sạch hạt bằng nước, phơi khô 3 - 4 nắng hoặc gieo trực tiếp trên líp.

                  

 

 Công dụng:

Gỗ làm chất đốt, nhất là làm tăng màu sắc của các sản phẩm đất sét nung.

Trái có thể ăn được, rể làm phao lưới đánh cá, làm nút chai rượu gọi là nút bất.

Giá trị môi trường: Dựa vào hệ rể, khả năng chịu ngập và tái sinh chồi mạnh của bần chua người ta đã trồng trên các bải bồi nhằm giữ đất, chống sạt lở dọc theo các sông, rạch.

 

      

  2- DỪA NƯỚC         

  Tên thường gọi: Dừa nước, Dừa lá

  Tên khoa học: Nypa fruticans

  Họ:  Palmaece  Cau dừa

                                                                

                                        

 

 

    Dừa lá là một trong số vài loài cây của họ Cao dừa sinh sống ở rừng ngập mặn. Sinh trưởng và phát triển tốt nơi bùn nhuyễn nhưng phải có thuỷ triều lên xuống thường xuyên, độ mặn thấp hơn 18 phần ngàn và không có khả năng chịu rét. Đôi khi chịu đựng được ở nơi cao và thủy triều lên xuống không thường xuyên.

          Thân ngầm mọc ngang dưới mặt đất, thành bụi.

Lá (tàu lá) mọc thẳng ra khỏi mặt đất.

Bẹ (gốc tàu là) chứa đầy không khí giúp cho cây đứng thẳng. Hoa đơn tính cùng nằm trên một cuống (đôi khi hoa đực mọc riêng).           

          Trái ( quầy ) dừa hình tròn lớn. Khi chín tự bung ra và phát tán nhờ nước.

          Rể chùm, ăn sâu vào đất, chủ yếu hút chất dinh dưỡng. 

 

      

 

  

   SỬ DỤNG:

          Lá ( tàu lá ) phơi khô lợp nhà, làm vách có thể sử dụng từ 5 đến 6 năm ( nếu lợp dầy có thể sử dụng trên 50 năm ), rất thích hợp cho vùng ngập mặn vì chi phí thấp, giảm nhiệt độ trong mùa khô ( nếu lợp tole sẽ dễ bị rỉ sét vì trong không khí có chứa lượng muối rất lớn và bị nóng trong mùa khô). Cơn bảo số9 vừa qua cho thấy những ngôi có cùng cấu trúc xây nếu lợp mái nhà bằng lá dừa nước thì thiệt hại nhẹ hơn các vật liệu khác. Cọng lá phơi khô dung dầu bóng quét phía ngoài chống con trùng xâm hại dùng để dựng vách ngoài rất đẹp trông giống như nhà gỗ ở Châu Âu . Ở Philippines và Malaysia người ta đang thành thảm lót trong nhà, giỏ đựng trái cây, lẵng hoa, các vật dụng trong nhà và quà lưu niệm được bày bán tại các khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn.

          Bẹ lá ( phần phía dưới của tàu lá): Phân viện nghiên cứu lâm nghiệp phía nam đã thành công trong việc ép thành ván nhân tạo ( Ocal), loại ván này  bền rất thích hợp để làm bao bì, vách ngăn…chưa đưa vào sản xuất vì gía thành cao.

          Hoa dùng để ướp trà, loại trà này uống rất ngon và thơm. Khi hoa bắt đầu nở dùng dao bén vạt lấy cánh hoa cho vào túi nylon, sau đó ướp với trà.

          Làm cocktail và mứt: Thịt quả dừa ( cơm dừa) ướp với đường thêm một ít loại trái cây và vài giọt rượu rum. Sên với đường khoảng 20 phút thành mứt dừa nước giống như kẹo dẻo. Ăn mứt và uống nước trà ướp dừa nước là món đặc sản tại các nhà hang nổi tiếng ở Semoa, Singapore, Malaysia….

          Sản xuất đường từ dừa nước:

          Ở Thái Lan, Malaysia, Philippines… rất thành công trong việc sản xuất đường ( có vị thơm ngon gần giống đường thốt nốt ), ủ thành rượu, bia, lên men giấm và các sản phẩm khác từ dừa nước được bày bán trong các siêu thị hoặc các điểm du lịch và họ xem cây dừa nước là cây công nghiệp.

 

 

 

 

                         

         

 

        Cách lấy nhựa: Vào thời điểm cây trổ hoa, người ta cắt cuống hoa, lấy ống nylon gắn vào cuống hoa và nước nhựa chảy từ cuống hoa theo ống nylon dẫn xuống bình đặt phía dưới tựa như lấy nhựa thốt nốt.

Ở nước ta, ông Trần Bá Thuận tại Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã khai thác theo cách trên cho thấy hiệu quả kinh tế cao gấp 3 lần so với tròng mía trên cùng một diện tích. Kết quả trên đã chứng tỏ việc trồng dừa nước là hiệu quả trong việc khai thác nhựa, chế biến đường, ủ thành bia, rượu, lên men giấm và các sản phẩm khác (theo Trần Trọng Trí – báo điện tử công nghiệp)

 

 

 

  3- GÁO VÀNG

Tên khoa học: Nauclea orientalist L. Sarcocophalus coadulata Druce.

Họ: Rubiaceae  Cam quít

Tên thường gọi: Gáo vàng

Đại mộc cao 15 – 25m, tán hình tròn , cành mọc ngang ,đầu cành non hình vuông.              

Vỏ trơn màu xám trắng, gìa có màu xám đen và bong ra tùng miếng nhỏ hình chữ nhật. Lá đơn mọc đối, đầu lá hình tròn, gốc lá hình trái tim hoặc tròn, dài 8-25cm; rộng 3-5cm, mặt trên nhẳn, mặt dưới gân nổi rỏ, lá non màu xanh lục, gìa màu xanh đậm, hoa tự đầu trên cuống dài có nhiều hoa màu vàng, có mùi thơm. Quả tụ, tròn 2-4cm, trên mỗi quả nhỏ có phần thịt quả hướng vào trung tâm, có mùi thơm khi chí                                                                                                                           Ra hoa vào tháng 3- 4, chín vào tháng 8 – 10.

          Phát tán nhờ chim, gia súc hoặc động vật nhỏ.

         

        Thu hái hạt giống: Khi quả chuyển sàng màu nâu, chúng ta có thể thu hái quả từ trên cây, ngâm để làm sạch thịt quả sau đó đem gieo hạt giống sẽ mọc sau 1 tuần. Tồn trữ hạt giống: sau khi làm sạch thịt quả và loại bỏ tạp chất, phơi nắng đến khi khô, cho vào thùng đậy kín.

          Phân bố: cây ưa ẩm, mọc nhanh thường gặp trên đất phù sa, dọc theo sông rạch, nơi đầm lầy. Mọc tốt trên đất phèn được rửa trôi sau vài năm. Tái sinh chối rất mạnh.

         

     Công dụng:

          Gỗ cứng, màu vàng nhạt được dùng làm đồ mộc dân dụng, ván lạng, ván ghép trang trí. Người dân trồng loại cây này dọc theo kinh rạch, trên đất phèn đã rửa trôi… vì tán rộng, tái sinh chồi mạnh có tác dụng chống sạc lở và xói mòn.Trái là nguồn thực phẩm rất tốt cho gia súc trong mùa nước nổi.

         

 

 

 

 

4- GÕ NƯỚC

Tên khoa học: Intsia bijuga

Họ: Caesalpiniaceae (Vang)

Tên thường gọi: Gõ nước

 

                       

     

         Đại mộc cao 20 – 25m, đường kính 50 – 80cm, cây ưa sáng mọc nhanh, tán rộng hình dù, màu xanh lục. Thân thẳng, phân cành thấp hoặc cao tùy thuộc vào thổ nhưỡng, nhiều nhánh. Vỏ nhẳn, màu trắng hơi ửng màu nâu đỏ, có nhiều nốt lốm đốm nhỏ.Tán lá màu xanh lục có thể nhận biết từ xa, lá kép lông chim, 2- 3 cặp lá chét, mỗi lá chét dài 8- 12cm, rộng 3-5cm, hình elip, non màu xanh lục, gìa màu xanh đậm.

        Hoa chùm, mộc ở nách lá, lưỡng tính,4 đài màu xanh, 1 cánh màu trắng hoặc hồng có điểm màu đỏ ở trung tâm, 3 nhụy và 7 nhị, nở thành từng lớp gần như quanh năm, mùa ra hoa chính tháng 5- 6, chín vào tháng 8- 9, thụ phấn nhờ côn trùng, gió. Trái cứng, hình quả trám, dài 20-30cm, rộng 8-10cm, mỗi quả chứa 2- 5 hạt (hạt cứng, hình hơi tròn, dẹt ,màu nâu đậm), chín gần như quanh năm, khi chín tách làm 2 mãnh. Rể mọc rộng thùy theo điều kiện sinh thái, nhiều rể nhánh, trong điều kiện ngập nước như rừng ngập mặn hoặc gần đầm lầy rể chính nhô trên mặt đất, cây càng lớn nhu cầu dinh dưỡng và chất khoáng càng tăng; giúp cây đứng vững vì thế hệ thống rể phát triển càng rộng.

 

          

         

         Phân bố: biên độ sống của loài cây này rất rộng từ 0 – 450m. Thích hợp nhất là khí hậu nóng ẩm, khả năng chịu hạn tốt, thường gặp ở rừng ngập mặn, dọc theo vùng duyên hải đất thấp, hai bên bờ sông rạch tại thành phố HCM. Từ 1 – 12 năm đầu cây phát triển rất nhanh, cao 10 –12m, đường kính 10 –15cm.

         

Thu hái hạt giống: quả (trái) gõ nước khi chín tự tách ra làm hai mãnh, hạt rơi chung quanh cây mẹ, hạt giống tốt có màu nâu đỏ đâm, bóng, không bị khuyết tật và côn trùng xâm hại. Tồn trữ hạt giống: phơi nắng 2- 3 lần đạt được độ ẩm 10%, có thể tồn trữ được 3 năm.

 

          Xử lý hạt giống: Trước khi gieo ươm mài hoặc tạo một vết nhỏ gần điểm cuống hạt, ngâm hạt giống khoảng 24 giờ sau đó gieo trên luống ẩm, 2-3 ngày hạt nẩy mầm. Cây con được nuôi dưỡng trong vườn ươm ít nhất 6 tháng với mức độ ánh sáng khác nhau.

      Sử dụng:

      Gỗ: Thớ gõ mịn, lỏi màu nâu đỏ, giác màu trắng ngà rất thích hợp cho đồ gỗ nội thất, ván sàn, thủ công mỹ nghệ. Ở Samoa đồ gỗ xuất khẩu chủ yếu làm bằng gõ nước.

          Thuốc trích từ vỏ: Fiji người ta trích từ vỏ cây gõ nước làm thuốc trị đau nhức cơ cho người gìa. Sắc nước từ vỏ cây này uớng trị bệnh thấp khớp, tiêu chảy, tăng cường sự rắn chắc cơ bắp, trị viêm khớp ở người lớn tuổi.

          Hoa: Đẹp, hấp dẫn côn trùng nhờ có nhiều mật và thơm được mệnh danh là hoa lan trên đảo Samoa.

                            

 

          Môi trường: Tái sinh chồi mạnh, khả năng chịu ngập tốt, do đó nhân dân thường trồng bảo vệ ven sông rạch, tàn rộng, thường xanh ngăn cảng mưa rơi trực tiếp xuống mặt đất chống lại sự xoái mòn. Trồng cây làm cảnh trên đường phố rất đẹp vì tàn lá màu xanh lục, hoa nở quang năm.

 

 

 

 5-  NHẠC NGỰA NƯỚC

 

Tên khoa học: Amoora cucullata

Tên thông dụng: Nhạc ngựa nước, Hoàn mã thủy, Giái ngựa nước

Họ :Meliaceace (Xoan)

Đại mộc cao khoảng 18 – 20 m, đường kính 40 - 50cm, thường xanh, thân thẳng, tán tròn. Lá kép lông chim lẻ; 3 – 4 đôi lá kép; mỗi lá chét dài 10 – 25 cm; rộng 4 - 7 cm, phiến lá nguyên; nhẳn, mặt trên phẳng, mặt dưới gân nổi khá rỏ, lá non màu xanh lục sáng, lá gìa màu xanh đậm. Vỏ màu xám nhạt, nhẳn, khi thành thục vỏ màu xanh đậm.     

 

       

 

         Hoa chùm mọc ở nách lá, hoa luỡng tính; 5 cánh hoa màu vàng; 5 đài màu xanh. Trái màu nâu sáng, khi chín tách ra làm 3 mãnh. Rể hình đầu gối nhô cao. Gỗ màu trắng khi còn non, màu trắng hồng khi gìa.

Phân bố chủ yếu dọc theo sông, kinh, rạch, nơi ẩm ước. Thường gặp ven sông rạch quận Thủ Đức, 9, 12…

         Ra hoa vào tháng 12 – 2 năm sau, quả chín vào tháng 5 – 6, phát tán nhờ nước. 

 

             

      

           Thu hái hạt giống: Khi quả bắt đầu tách ra, chúng ta có thể thu hái hạt giống ngay trên cây. Sau đó gieo hạt trên líp ẩm khoảng 4-6 ngày hạt nẩy mầm. Hạt giống khó bảo quản

Công dụng: - Gổ rất thích cho ván lạng, đồ mộc

- Môi trường: Rất thích hợp cho việc trồng bảo vệ, chống sạt lở ven sông rạch.                                   

 

 

 

6- TRÀM CHUA

    Tên khoa học: Melaleuca cabujuti (LINN.)

    Họ: Myrtaceae (Tràm)                        

                     

         Cây thường xanh, thân dẻo, phân cành thấp, nhiều nhánh; cành nhánh luôn luôn hướng lên trên so với trục thân. Là đơn mọc cách, dầy, hình lưỡi mác,phiến lá nguyên, nhọn ở hai đầu.

      Hoa lưỡng tính mọc thành chuỗi dài, nhiều nhị màu trắng, mùi thơm, nhiều mật. Trái hình tròn có 3 mãnh, mỗi mãnh chứa rất nhiều hạt nhỏ ly ty. Vỏ màu vàng xám, dầy, bong ra từng lớp. Ra hoa gần như quanh năm nhưng mùa chính vào tháng 1 – 3, trái chín vào tháng 5 – 6. Thụ phấn nhờ côn trùng. Phát tán nhờ gió. Tái sinh chồi rất mạnh.

Phân bố khá rộng rải, thường gặp nhất ở miền Tây Nam Bộ, đất phèn tại thành phố Hồ Chí Minh…

             

 

   Công dụng:

- Gỗ làm cừ xây dựng, cột nhà…

- Lá và cành non chưng cất tinh dầu, hoa nuôi ong.

- Tràm chua chịu đựng được nước ngập và phèn do đó người ta thường trồng dọc theo kinh rạch để bảo vệ đê và chống sạt lở.

 

 

 

 7- TRÂM MÓC/ TRÂM SỪNG

 

Tên khoa học: Syzygium cumini (L.) Skeels

Họ: Myrtaceae

Tên thường gọi: Trâm móc - Trâm sừng - Vối rừng

          Đại mộc cao 18 – 20 m, đường kính 50 – 80cm, cây ưa sáng mọc nhanh, thân thẳng phân cành thấp, tán hình phểu. Vỏ màu xám đen, bong ra thành từng mãnh nhỏ. Lá kép lông chim chẳn, 2- 4 cặp lá chét dài 5 – 20cm, rộng 2 – 10cm. mặt trên bóng giống như có lớp sáp phủ lên trên, mặt dưới gân nổi rỏ, lá non màu xanh lục sáng, lá già màu xanh lục đậm. Hoa tự chùm mọc ở nách lá hoặc đầu cành, 5 lá đài màu xanh, 5 cánh hoa màu trắng mỏng nhỏ, một nhụy, có rất nhiều nhị màu trắng ngà, tâm hoa màu vàng đậm. Trái nhỏ, hình quả trám, non màu xanh, chín màu nho, hạt cứng màu trắng ngà được bao bởi một lớp thịt quả màu tím đậm, thịt quả ăn được. Ra hoa vào tháng 12 – 2 năm sau, quả chín vảo tháng 5 – 6. Phá tán nhờ động vật nhỏ, chim và dơi…

   

               

                

 

     Công dụng:

- Gỗ cứng màu  đỏ đậm có điểm vân đen dùng là đồ mộc cao cấp, trang trí nội thất rất tốt…

- Lá non dùng làm rau sống cho các món ăn như cá lóc hấp, bánh canh Trảng Bàng…

- Vỏ lụa dùng làm thuốc trị ngứa, lá và vỏ lụa nấu uống trị thấp khớp…

- Rất thích hợp trên vùng đất nhiểm phèn, trồng dọc theo hai bờ sông rạch để bảo vệ đê và chống xói mòn.

 

 

 

 

 

 

     8. XĂNG MÁU

 

          Tên khoa học: Horsfielddia irya  Warbg.

          Đại mộc nhỏ, cao khoảng 7 – 15 m, nhánh mọc ngang. Lá dày, dài đến 30cm, không lông, mặt dưới có gân nổi và có màu rỉ sét. Hoa chùm tụ tán, có lông màu rỉ sét, hoa nhỏ, cành màu vàng nhị màu nâu. Ra hoa từ tháng 5 – 6, chín vào tháng 7 – 8, trái màu xanh ,khi chín chuyển qua màu đỏ.

          Thân thẳng, tỉa cành tự nhiên. Lúc nhỏ vỏ màu xám trắng, trơn. Khi lớn vỏ màu xám sậm và nứt dọc nhưng không sâu. Mọc dọc theo sông rạch ở Bình Dương, TP Hồ Chí Minh… Cây ưa ẩm, chịu đựng được nước ngập của thủy triều. ( theo GS-TS Phạm Hoàng Hộ). Tái sinh chồi mạnh.

            Công dụng:

-          Lá non có vị chát, hơi chua dùng làm rau sống cùng với các loại rau tự nhiên khác trong món thịt heo cuốn bánh canh Trảng Bàng.

-          Gỗ: Khi mới khai thác, nhựa tươm ra giống như máu. Do đó người ta gọi là Xăng Máu. Phơi khô khoảng 10 đến 15 ngày, gỗ xẻ ra có màu hồng nhạt nhưng rất dễ bị mối mọt. Với công nghệ chế biến hiện nay, người ta đã ngâm tẩm tạo ra các sản phẩm có lợi hơn như guốc, bao bỉ, ván lạng dùng làm ván ruột của ván ép dùng trong xây dựng.

-        Chống sạc lở ven sông rạch:

                  

 

     Từ lâu con người đã biết tận dụng ưu điểm của thiên nhiên bằng cách trồng Xăng máu và kết hợp một số loài cây khác dọc theo bờ tiếp xúc với dòng nước nhằm bảo vệ bờ đê vì bộ rể mọc dọc theo bờ sông rạch tạo thành tấm chắn bảo vệ bờ đê, chống lại sự xoáy mòn của dòng chảy hoặc sự va đập của các cơn sóng do tàu, thuyền hoặc gió thổi tạo ra.

          Tán lá rộng, nhiều tầng, lá dày và to, không cho nước mưa rơi trực tiếp xuống mặt đất, tránh được sự xoáy mòn của nước mưa trên bền mặt của đất.

          Với đặc điểm ưu việt về tái sinh chồi mạnh. Do đó, bộ rể luôn luôn là tấm chắn sống bảo vệ bờ đê chống lại sự xoáy mòn của nước và tăng thêm độ vững chắc cho bờ đê.

 

 

 

     9. XĂNG TRẮNG

      Tên thường gọi : Xăng trắng, Côm duyên hải;

    Tên khoa học : Elaeocarpus littoralis Teijm. Và Binn.

    Trung mộc cao 7 – 10m, thân thẳng, vỏ trơn, màu xám, nhánh mọc cách, góc nhánh so với thân > 45o, thân dẻo.

 

      Lá đơn, mọc cách, chụm ở đầu cành; phiếm lá có răng cưa, đầu tròn, góc hình nem; mặt trên phẳng bóng; mặt dưới màu xám trắng, gân nổi; cuống lá dài 1- 2cm, đầu cuống lá có màu đỏ khi còn non; có lá kèm rụng sớm.

                      

    

        

        Hoa tự chùm, rủ xuống đất; cuống hoa dài 2 – 4cm; 5 lá đài màu kem nhạt, có lông màu trắng; 5 cánh hoa màu trắng, 16 rìa trên mỗi cánh, gốc cánh hoa có màu hồng nhạt; tiểu nhị màu vàng, khoảng 90 – 100; một nhụy nhô lên cao. Ra hoa hai lần trong một năm, lần đầu tháng 5 – 6, lần hai 9 – 10 .

       Quản nhân cứng, hình quả trứng, có lông tơn màu trắng phủ bên ngoài. Quả chín vào tháng 8 – 9 và tháng 11 – 12.

 

      

                         

 

 

    Rể mọc thành chùm, phát xuất từ thân cắm sâu vào đất giống như rể cây đa

    Tái sinh chồi mạnh, đôi khi lên đến 20 – 50 chồi trên một gốc.

    Mọc dọc theo các sông, rạch tại TP HCM, Bình Dương, Đồng Nai…

    Công dụng:

    Với đặc tính ưu việt của hệ rể chùm phát xuất từ thân cắm sâu vào đất vừa hút chất dinh dưỡng cung cấp cho cây, vừa làm nhiệm vụ chống đỡ cho cây khỏi bị ngã và khả năng thích nghi với thủy triều dọc theo sông, rạch. Người dân tận dụng đặc tính ưu việt này bằng cách trồng loài cây này dọc theo các sông, rạch nhằm chống lại sự sạc lở và bảo vệ đê trước sự xoáy mòn của dòng chảy.

     Khả năng tái sinh mạnh giúp cho loài cây này tồn tại lâu vì thế bộ rể không bị chết và để lại lổ hổng trong bờ đê.

     Gỗ màu trắng thích hợp đồ thủ công mỹ nghệ, làm guốc…

 

 

 

 

10- VẸT ĐEN

 

Tên khoa học: Bruigera exangulata .(Lour.) Poir.

Họ Rhyzophoracae

Tên thường gọi: Vẹt đen

Cây gỗ trung bình, thường xanh cao khoảng 15m, nhiều cành nhánh. Lá đơn mọc đối, thành hình chữ thập giữa hai tầng lá nhưng thưa hơn Vẹt dù ( B. gymnorrhiza), lá hình elip, dài 5 - 10cm; rộng 4 - 5cm, gốc hơi bầu, đầu nhọn. Hoa đơn, lưỡng tính mọc ở nách lá, quay đầu xuống đất, đài hoa phía ngoài màu xanh; trong màu trắng ngà, 10 - 12 cánh hoa mỏng nhỏ màu trắng ngà chụm lại thành một điểm, 20 - 24 nhị chia thành 10 - 12 cặp; mỗi cặp gắn với một cành hoa, nhị màu vàng hơi nâu, lông màu trắng phủ bên ngoài.    

Trái hình trụ dài 7 - 8cm, non màu xanh lá mạ, chín màu xanh đậm hơi ửng màu nâu đỏ, ra quanh năm, tuy nhiên mùa thu hoạch chính vào tháng 7 -8. Phát tán nhờ nước

Phân bố rộng rải dọc theo các sông kinh rạch tại thành phố

Giá trị kinh tế:

Gỗ màu trắng ngà rất tốt cho việc làm cột nhà, làm đồ mộc.

 

              

 

      Gốc vẹt đen nghiền thành bộ trộn với vỏ cây Ô đước làm nhang thơm. Khi đốt có mùi thơm giống nhang trầm.

      Bảo vệ môi trường: Với hệ rể đầu gối mọc lan rộng ngăn cản sự xói mòn của nước, bảo vệ vững chắc ven sông rạch. Tàn lá rộng ngăn cản nước mưa rơi trực tiếp xuống mặt đất tránh xói mòn.

         

 

                                                                          CHI CỤC PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP

                                                                       NGUYỄN SƠN THỤY

 


Số lượt người xem: 4063    

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
Tìm kiếm